Một số vấn đề trong phát triển chăn nuôi thỏ ở Việt Nam

Chăn nuôi thỏ của Việt Nam đang từng bước được khôi phục và phát triển, do nhu cầu thỏ làm thực phẩm được mở rộng ở nhiều địa phương, nhất là các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ. Thịt thỏ không còn được coi là đặc sản, mà dần trở thành món ăn thường nhật của người dân.

Đặc biệt từ khi có sự đầu tư của Công ty TNHH Nippon zuki vào lĩnh vực chăn nuôi và khai thác thỏ làm nguyên liệu dược cho thị trường Nhật Bản, thì chăn nuôi thỏ càng phát triển chuyên nghiệp hơn. Hiện nay, sản lượng thịt thỏ cung cấp ra thị trường trung bình mỗi năm khoảng 10.000 tấn.

Chăn nuôi thỏ công nghiệp

Thỏ là con vật dễ nuôi, hiền lành, mắn đẻ, sinh trưởng và phát triển nhanh, khẩu phần ăn chiếm tới 60 – 70% là rau, cỏ, chi phí giá thành sản phẩm thấp. Nuôi thỏ cũng đơn giản, có thể nuôi trong các trang trại hoặc trong các hộ gia đình. Thỏ không chỉ cung cấp thực phẩm, mà còn sử dụng trong y học, làm thú cưng và công nghiệp dệt may, da giầy…

Trong Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2020–2030, tầm nhìn 2045, thỏ cũng là vật nuôi được đưa vào định hướng phát triển chiến lược, mục tiêu đến năm 2030 đạt quy mô 4,0 triệu con, đáp ứng nhu cầu thực phẩm chất lượng cao, dược liệu, thú cưng, công nghiệp thuộc da cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Để phát triển nhanh và bền vững ngành chăn nuôi thỏ của Việt Nam trong thời gian tới, cần thống nhất một số vấn đề sau:

Quan điểm phát triển

Phát triển chăn nuôi thỏ nhằm phát huy lợi thế về đa dạng sinh học của Việt Nam và các đặc tính sinh học của thỏ, cũng như kinh nghiệm và tiềm năng lao động trong nông nghiệp, nông dân Việt Nam.

Xây dựng ngành chăn nuôi thỏ trở thành ngành bổ trợ hiệu quả cho cơ cấu chăn nuôi; nguồn cung thực phẩm sạch, giá trị dinh dưỡng cao, dược liệu quý và tạo sinh kế cho nông dân.

Phát triển chăn nuôi thỏ, tạo thêm những mắt xích hoàn chỉnh trong hệ sinh thái của mô hình nông nghiệp tuần hoàn, sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thực vật nhiệt đới, nguồn phụ phẩm nông nghiệp và lao động nông nhàn trong khu vực nông thôn.

Mục tiêu phát triển giai đoạn 2026–2031

Mục tiêu tổng quát

Đưa thịt thỏ trở thành mặt hàng thực phẩm được sử dụng thường xuyên trong cơ cấu tiêu dùng thực phẩm của người Việt Nam. Phát triển chăn nuôi thỏ bền vững theo hướng công nghiệp, hiện đại, an toàn sinh học và thân thiện, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.

Mục tiêu cụ thể

Đẩy nhanh tốc độ phát triển đàn thỏ trong sản xuất, với mức tăng trưởng trung bình trong giai đoạn 2026-2030 đạt 8–10%/năm.

Hình thành các vùng chăn nuôi thỏ tập trung tại Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng Sông Hồng, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.

Phấn đấu tăng tỷ lệ chế biến sâu như: thịt mát; xúc xích; thực phẩm dinh dưỡng; dược liệu sinh học; da và phụ phẩm.

Định hướng và giải pháp phát triển

Phát triển chăn nuôi thỏ theo các chuỗi liên kết, hình thành các doanh nghiệp, HTX, hiệp hội chuyên doanh về chăn nuôi, chế biến các sản phẩm từ thỏ phù hợp với từng vùng sinh thái, theo các mô hình:

Quy mô hộ gia đình: Phù hợp vùng nông thôn; tận dụng lao động và phụ phẩm nông nghiệp, kết hợp VAC.

Quy mô trang trại: Phát triển trang trại tập trung, ứng dụng chuồng lạnh, máng ăn tự động, AI trong quản trị chăn nuôi.

Nâng cao chất lượng con giống

– Chọn tạo và nhập nội giống thỏ có năng suất cao như: New Zealand; California; Hyla; thỏ chuyên thịt.

– Xây dựng cơ sở giống cấp vùng.

– Ứng dụng công nghệ sinh học và tin học trong chọn giống, quản lý di truyền, nhân giống bằng thụ tinh nhân tạo.

Nâng cao chất lượng và giảm chi phí thức ăn chăn nuôi

– Tận dụng có hiệu quả nguồn nguyên liệu sẵn có làm thức ăn nuôi thỏ: cây cỏ, rau xanh, phụ phẩm nông nghiệp, thức ăn lên men sinh học.

– Nâng cao tỷ lệ sử dụng thức ăn chăn nuôi công nghiệp, thức ăn qua chế biến đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng và mở rộng phương thức chăn nuôi công nghiệp.

Phòng chống dịch bệnh

– Xây dựng quy trình thú y riêng cho thỏ, trong đó chú trọng việc sử dụng vaccine trong và chăn nuôi an toàn sinh học trong phòng bệnh cho đàn thỏ, nhất là đàn giống.

– Ứng dụng công nghệ số theo dõi dịch bệnh, truy suất nguồn gốc kiểm soát dịch bệnh và an toàn thực phẩm.

Chế biến và thị trường

– Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các sản phẩm từ thỏ (thực phẩm, dược liệu, thuộc lông, da thỏ) và các món ăn từ thịt thỏ;

– Mở rộng thị trường trong nước: nhà hàng, bệnh viện, thể thao, đặc biệt là tuyên truyền về giá trị dinh dưỡng và hướng dẫn chế biến sử dụng làm thực phẩm hằng ngày cho người dân;

– Nghiên cứu khai mở thị trường xuất khẩu các sản phẩm từ thỏ đến các thị trường tiềm năng, như: Nhật Bản; Hàn Quốc; EU; Trung Đông.

– Tăng cường chế biến sâu các sản phẩm từ thỏ, tiện ích cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu: thịt thỏ đóng gói; đóng hộp; thỏ chế biến sẵn, sạch, an toàn, đảm bảo dinh dưỡng, tiêu chuẩn kỹ thuật…

– Xây dựng thương hiệu hướng tới: Xây dựng thương hiệu; nhằm thực hiện “Thịt thỏ sạch Việt Nam”; sản phẩm VietGap, Globalgap, OCOP; truy xuất nguồn gốc.

Phát triển chăn nuôi thỏ cảnh

– Phát triển thỏ cảnh theo hướng: sinh vật cảnh văn minh; kinh tế giá trị cao; thân thiện môi trường; gắn với đô thị, giáo dục và du lịch trải nghiệm.

– Ngành thỏ cảnh không chỉ là thú nuôi giải trí mà còn có thể trở thành: ngành kinh tế sinh vật cảnh; mô hình khởi nghiệp cho thanh niên; sản phẩm du lịch – trải nghiệm; lĩnh vực thương mại điện tử và dịch vụ thú cưng.

– Tiềm năng phát triển tại Việt Nam: Việt Nam có nhiều điều kiện thuận lợi: nhu cầu nuôi thú cưng tăng mạnh; giới trẻ yêu thích động vật nhỏ; chi phí nuôi thấp hơn chó mèo; phù hợp căn hộ chung cư; dễ nhân giống; đa dạng màu lông và giống.

Các giống được ưa chuộng: Holland Lop; Mini Rex; Lionhead; Netherland Dwarf; Angora; English Spot.

– Mục tiêu và giải pháp

+ Hình thành thị trường thỏ cảnh chuyên nghiệp, có chuỗi cung ứng giống – thức ăn – phụ kiện – thú y – dịch vụ chăm sóc.

+ Hình thành cộng đồng và câu lạc bộ thỏ cảnh tại các đô thị lớn: Hà Nội; TP. Hồ Chí Minh; Đà Nẵng và các thành phố, đô thị lớn.

+ Ứng dụng truy xuất nguồn gốc thú cưng; Xây dựng tiêu chuẩn phúc lợi động vật đối với thỏ cảnh; Tăng tỷ lệ kinh doanh online và thương mại điện tử.

+ Phát triển du lịch – giáo dục trải nghiệm như mô hình: cafe thú cưng; nông trại trải nghiệm; khu giáo dục trẻ em; check-in sinh vật cảnh…

+ Khoa học công nghệ cần tập trung: Ứng dụng AI nhận diện bệnh; quản lý đàn bằng chip hoặc QR; tự động hóa cho ăn và kiểm soát nhiệt độ.

Hội Chăn nuôi thỏ Việt Nam cần đổi mới tư duy và cách tiếp cận theo hướng chuyên nghiệp và thiết thực hơn với ngành và đặc biệt là các hội viên

Kết luận và đề nghị

– Thỏ là vật nuôi còn nhiều tiềm năng và không gian phát triển tại Việt Nam;

– Phát triển chăn nuôi thỏ không chỉ đáp ứng nhu cầu thực phẩm, dược liệu, nguyên liệu cho công nghiệp, mà còn là sinh kế cho người nông dân Việt Nam;

– Nhà nước cần có chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi và sử dụng các sản phẩm từ thỏ trong cộng đồng;

– Tăng cường công tác tuyên truyền về ích lợi của việc chăn nuôi và sử dụng các sản phẩm từ thỏ;

– Tăng cường công tác đào tạo nguồn nhân lực cán bộ chuyên môn, công nhân kỹ thuật về chăn nuôi, chế biến sản phẩm từ thỏ cho các hộ và vùng chăn nuôi.

– Khuyến khích phát triển các chuỗi liên kết chăn nuôi và chế biến, tiêu thụ sản phẩm từ thỏ, ở đó phát huy vai trò đầu tầu của các doanh nghiệp và trung tâm của hội, HTX, đưa người chăn nuôi vào các mô hình liên kết sản xuất – chế biến – tiêu thụ sản phẩm.

Hội Chăn nuôi thỏ Việt Nam cần đổi mới tư duy và cách tiếp cận theo hướng chuyên nghiệp và thiết thực hơn với ngành và đặc biệt là các hội viên. Thực sự là cầu nối, tạo diễn đàn cho các cơ quan quản lý, doanh nghiệp, nhà khoa học, tổ chức tài chính đến được với người chăn nuôi và các hội viên, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển ngành chăn nuôi thỏ bền vững./.

TS. Nguyễn Xuân Dương

Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam

Nguồn:nhachannuoi.vn Sao chép liên kết